Khi người vay qua đời nhưng vẫn còn dư nợ ngân hàng, khoản nợ không đương nhiên được xóa bỏ. Tuy nhiên, không phải tất cả thành viên trong gia đình đều có nghĩa vụ trả nợ thay người đã mất. Trách nhiệm thanh toán phụ thuộc vào di sản thừa kế, nghĩa vụ của những người có liên quan và các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản được hưởng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Điều này có nghĩa, nếu người đã mất để lại tài sản, di sản đó được sử dụng để thực hiện các nghĩa vụ tài chính, bao gồm khoản nợ ngân hàng. Người thừa kế không mặc nhiên phải dùng tài sản riêng để thanh toán phần nợ vượt quá giá trị di sản được hưởng.
Chẳng hạn, người vay còn nợ ngân hàng 500 triệu đồng nhưng di sản để lại chỉ có 300 triệu đồng. Về nguyên tắc, nghĩa vụ trả nợ được thực hiện trong phạm vi di sản này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc người liên quan có nghĩa vụ độc lập.
Tuy nhiên, nếu người thân cùng đứng tên vay, có nghĩa vụ trả nợ chung hoặc đã cam kết thực hiện nghĩa vụ trả nợ riêng thì trách nhiệm thanh toán sẽ được xác định theo hợp đồng và quy định pháp luật có liên quan.
Đối với khoản vay có tài sản thế chấp, ngân hàng có thể xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ khi đáp ứng các điều kiện theo quy định. Gia đình cũng có thể trao đổi với ngân hàng để tìm phương án tiếp tục thanh toán khoản vay phù hợp.
Vì vậy, khi người vay qua đời mà vẫn còn nợ ngân hàng, gia đình nên chủ động liên hệ ngân hàng để xác định số dư nợ, kiểm tra hợp đồng tín dụng, tài sản bảo đảm và quyền lợi bảo hiểm khoản vay nếu có. Đồng thời, cần làm rõ các nghĩa vụ tài chính trước khi phân chia di sản thừa kế nhằm hạn chế tranh chấp và rủi ro pháp lý.
Hạnh Hòa