Áp lực huy động vốn ngày càng lớn
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang ghi nhận sự thay đổi đáng chú ý khi nhóm ngân hàng không còn giữ vị thế áp đảo như trong năm 2025. Theo thống kê từ Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA), trong tháng 4/2026, nhiều ngân hàng đã phải nâng mạnh lãi suất phát hành trái phiếu để hút dòng tiền.
Cụ thể, MSB, Bac A Bank và Techcombank phát hành trái phiếu với mức lãi suất dao động từ 8,4 - 8,9%/năm. Trong khi cùng kỳ năm trước, các ngân hàng này chỉ phải chi trả quanh mức 5,2 - 5,3%/năm.
Dù lãi suất trái phiếu ngân hàng tăng mạnh nhưng sức hút với nhà đầu tư vẫn suy giảm. Nếu trong quý I/2025, toàn bộ lượng trái phiếu phát hành trên thị trường đều đến từ nhóm ngân hàng thì sang quý I/2026, tỷ trọng của nhóm này chỉ còn khoảng 30%.
Ngược lại, doanh nghiệp bất động sản đã vươn lên chiếm khoảng 60% tổng lượng phát hành toàn thị trường.
Việc lãi suất trái phiếu ngân hàng tiến sát mức lãi suất cho vay đang khiến biên lợi nhuận của các nhà băng bị thu hẹp đáng kể. Khi huy động vốn với lãi suất gần 9%/năm nhưng lãi cho vay chỉ quanh mức 10%/năm, phần chênh lệch còn lại sau khi trừ chi phí vận hành, dự phòng rủi ro và chi phí vốn không còn nhiều.
Không chỉ khó ở kênh trái phiếu, huy động tiền gửi tiết kiệm cũng đang chững lại. Theo thống kê quý I/2026 từ 27 ngân hàng thương mại niêm yết, tổng tiền gửi khách hàng đạt hơn 12,88 triệu tỷ đồng, tăng chưa tới 1% so với cuối năm trước.
Trong khi đó, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống cùng kỳ đạt khoảng 3,7%, cho thấy tốc độ cho vay đang cao hơn đáng kể so với khả năng huy động vốn.
Khó có dư địa giảm lãi suất
Trao đổi với PV Tiền Phong, TS. Châu Đình Linh - Giảng viên Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM - cho rằng hệ thống ngân hàng hiện cùng lúc chịu áp lực về thanh khoản, huy động vốn và nhu cầu tín dụng tăng mạnh từ nền kinh tế.
Theo ông Linh, yếu tố đầu tiên là áp lực lạm phát. Khi lạm phát gia tăng, lãi suất huy động phải duy trì ở mức thực dương để giữ sức hấp dẫn với người gửi tiền.
Bên cạnh đó, khoảng cách giữa lãi suất đầu vào và đầu ra cũng đang trở thành gánh nặng với nhiều ngân hàng. Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng phục hồi, các nhà băng buộc phải tăng lãi suất huy động để hút tiền gửi, từ đó tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất cho vay.
Bài toán thanh khoản cũng được đánh giá là thách thức lớn. Ngân hàng không chỉ cần vốn để cho vay mà còn phải đảm bảo nguồn tiền chi trả tiết kiệm đến hạn, duy trì khả năng thanh toán và vận hành hệ thống an toàn.
Theo TS. Châu Đình Linh, khi nhu cầu thanh khoản vượt nguồn cung vốn, lãi suất khó tránh khỏi áp lực tăng.
Ngoài ra, dòng tiền gửi vào ngân hàng hiện có dấu hiệu chậm lại khi nhiều kênh đầu tư khác trở nên hấp dẫn hơn. Dù chưa xuất hiện xu hướng dịch chuyển quá mạnh sang một thị trường cụ thể, cạnh tranh giữ chân người gửi tiền đang ngày càng gay gắt.
Vị chuyên gia nhận định áp lực lãi suất hiện chủ yếu tập trung ở nhóm ngân hàng nhỏ, song khả năng lan rộng vẫn phụ thuộc lớn vào năng lực điều tiết thanh khoản của Ngân hàng Nhà nước.
Về dài hạn, TS. Châu Đình Linh cho rằng Việt Nam cần giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng bằng cách phát triển mạnh hơn thị trường vốn, đặc biệt là thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp.
Theo ông, muốn thị trường vốn phát triển bền vững cần thúc đẩy cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đa dạng hóa hàng hóa trên thị trường chứng khoán và tái cấu trúc thị trường trái phiếu doanh nghiệp để cải thiện thanh khoản và giao dịch thứ cấp.
Đánh giá về xu hướng lãi suất thời gian tới, ông Linh cho rằng khả năng giảm sâu là không dễ khi áp lực lạm phát toàn cầu vẫn cao, trong khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất cao.
“Trong bối cảnh hiện nay, giữ ổn định được mặt bằng lãi suất đã là một kết quả tích cực”, ông Linh nhận định.
Khang Nguyễn