Theo quy định mới, ngay khi người nộp thuế đáp ứng đủ điều kiện để được hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh, cơ quan thuế sẽ ban hành thông báo hủy bỏ trên Hệ thống thông tin quản lý thuế và gửi đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh. Căn cứ vào thông báo này, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh sẽ thực hiện hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh theo đúng quy định.
Trước đây, cơ quan thuế có thời hạn 24 giờ làm việc kể từ khi người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ thuế để ban hành thông báo hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh. Với quy định mới, thời gian xử lý được rút ngắn đáng kể, giúp người nộp thuế nhanh chóng được gỡ bỏ hạn chế xuất cảnh sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính, đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan quản lý.
Bổ sung cơ chế xử lý khi dữ liệu nộp thuế chưa được cập nhật
Bên cạnh việc rút ngắn thời gian xử lý, Nghị định 252/2026/NĐ-CP còn bổ sung cơ chế bảo vệ quyền lợi của người nộp thuế trong trường hợp đã nộp tiền nhưng dữ liệu chưa được cập nhật trên hệ thống.
Theo đó, người nộp thuế có thể gửi phản hồi kèm bản chụp chứng từ nộp tiền bằng phương thức điện tử thông qua Hệ thống thông tin quản lý thuế. Sau khi tiếp nhận, cơ quan thuế sẽ kiểm tra, đối chiếu, cập nhật dữ liệu và ban hành thông báo hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh nếu người nộp thuế đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Quy định này giúp người nộp thuế chủ động xử lý các trường hợp dữ liệu nộp thuế cập nhật chậm, hạn chế ảnh hưởng đến kế hoạch xuất cảnh do độ trễ trong quá trình đồng bộ thông tin giữa các hệ thống.
Cục Thuế cũng khuyến nghị người nộp thuế thường xuyên theo dõi tình trạng thực hiện nghĩa vụ thuế trên các ứng dụng và cổng thông tin điện tử của ngành Thuế, đồng thời chủ động kiểm tra tình trạng tạm hoãn xuất cảnh. Nếu đã hoàn thành nghĩa vụ thuế nhưng thông tin chưa được cập nhật, người nộp thuế cần kịp thời phản hồi với cơ quan thuế để được xử lý.
Mở rộng điều kiện được hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh
Nhằm tạo điều kiện để người nộp thuế khắc phục vi phạm và sớm được hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh, Nghị định 252/2026/NĐ-CP đã sửa đổi quy định theo hướng linh hoạt và phù hợp hơn với thực tế.
Trước đây, người nộp thuế chỉ được hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh sau khi hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ thuế.
Theo quy định mới, cơ quan thuế sẽ thực hiện hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh khi số tiền thuế còn nợ dưới 50 triệu đồng đối với cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh hoặc dưới 500 triệu đồng đối với doanh nghiệp, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã.
Đối với người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, việc hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh được thực hiện khi đã hoàn tất thủ tục khôi phục mã số thuế, hoàn thành nghĩa vụ khai và nộp thuế để số tiền nợ còn dưới ngưỡng quy định hoặc khi được chấm dứt hiệu lực mã số thuế theo quy định của pháp luật.
Bổ sung đối tượng và điều kiện áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh
Nghị định 252/2026/NĐ-CP cơ bản kế thừa các trường hợp tạm hoãn xuất cảnh tại Nghị định 49/2025/NĐ-CP, đồng thời sửa đổi, bổ sung một số nội dung để bảo đảm thống nhất với Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 và tạo điều kiện để người nộp thuế có thêm thời gian khắc phục vi phạm trước khi bị áp dụng biện pháp này.
Theo đó, Nghị định bổ sung đối tượng bị tạm hoãn xuất cảnh là cá nhân là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
Đối với trường hợp người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh chỉ áp dụng đối với cá nhân kinh doanh, chủ hộ kinh doanh, cá nhân là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã khi sau 120 ngày kể từ ngày cơ quan thuế ban hành thông báo không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký mà vẫn không thực hiện thủ tục khôi phục mã số thuế hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế theo quy định.
Việc quy định thời hạn 120 ngày trước khi áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh giúp người nộp thuế có thêm thời gian chủ động khắc phục vi phạm, thực hiện các thủ tục cần thiết theo quy định. Đồng thời, quy định này cũng góp phần hạn chế tình trạng mã số thuế ở trạng thái "không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký" kéo dài, nâng cao chất lượng dữ liệu đăng ký thuế và hiệu quả quản lý thuế.