Mở rộng huy động nguồn vốn dài hạn từ nước ngoài

Mới đây, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) ký hợp đồng vay 27 triệu USD với Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC), cùng hai bên đồng cho vay là Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC) và Joyo Bank.

Đây là khoản vay dự án đầu tiên thuộc hợp đồng khung tín dụng trị giá 150 triệu USD được VPBank và JBIC ký năm 2024, với mục tiêu tài trợ các dự án năng lượng sạch và dự án xanh tại Việt Nam.

Khoản vốn 27 triệu USD sẽ được VPBank cấp cho Tổng Công ty Truyền tải điện Quốc gia (EVNNPT) để phát triển đường dây truyền tải 220 kV, qua đó nâng cao khả năng tiếp nhận và giải tỏa công suất từ các dự án năng lượng tái tạo tại khu vực phía Nam.

Theo ông Kamijo Hiroki - Phó Tổng Giám đốc VPBank, kiêm Giám đốc Khối Ngân hàng giao dịch và Đầu tư nước ngoài, việc ký khoản vay dự án đầu tiên với JBIC cho thấy cam kết của ngân hàng trong việc đồng hành với các dự án hạ tầng thiết yếu, phục vụ tăng trưởng xanh và quá trình chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam.

Không riêng VPBank, HDBank cũng đang tăng cường hợp tác với các định chế tài chính quốc tế. Trong hai ngày 22-23/9 tại New York, HDBank ký các biên bản ghi nhớ với Citi và Standard Chartered, tập trung mở rộng hợp tác trong thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại, quản lý dòng tiền, ngoại hối và các giải pháp huy động vốn tại thị trường nước ngoài. Trước đó, Standard Chartered đã tham gia khoản vay hợp vốn quốc tế theo chuẩn khoản vay xã hội trị giá 721 triệu USD của HDBank.

Theo báo cáo mới đây của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, các ngân hàng thương mại đã trở lại thị trường vay hợp vốn quốc tế, với tổng giá trị khoảng 3,4 tỷ USD từ đầu năm 2026, bao gồm các khoản đã ký và đang triển khai tại 4 ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân.

Bên cạnh VPBank và HDBank, Techcombank dự kiến huy động 1 tỷ USD, trong khi ACB đang tiếp cận thị trường với khoản vay khoảng 300 triệu USD. Một số ngân hàng khác như SeABank và Nam A Bank cũng đang xúc tiến các khoản vay quốc tế. Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên năm nay, VIB đặt mục tiêu huy động 1 tỷ USD từ thị trường quốc tế.

Tính phương án phát hành trái phiếu quốc tế

Song song với vay hợp vốn, một số ngân hàng đang xem xét phát hành trái phiếu quốc tế hoặc phát hành riêng lẻ cho nhà đầu tư nước ngoài. Kênh huy động này có thể giúp các ngân hàng tiếp cận nguồn vốn dài hạn hơn và mở rộng tệp nhà đầu tư.

HDBank đã thông qua kế hoạch phát hành tối đa 500 triệu USD trái phiếu quốc tế, kỳ hạn 3 năm, dự kiến thực hiện trong giai đoạn quý IV/2026 đến quý I/2027. Trước đó, vào tháng 1/2026, HDBank phát hành thành công 100 triệu USD trái phiếu xanh quốc tế với sự tham gia của IFC, FMO và BII. Vietcombank cũng cho biết đang xem xét phương án phát hành trái phiếu bằng USD.

Trao đổi với PV Tiền Phong, TS. Hoàng Đàm Lương Thúy - Giảng viên Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội - nhận định việc các ngân hàng tìm kiếm nguồn vốn trên thị trường quốc tế là xu hướng dễ hiểu trong bối cảnh nguồn vốn Việt Nam đồng cạnh tranh gay gắt.

Theo bà Thúy, dù giá vốn của các khoản vay quốc tế không phải lúc nào cũng thấp, những khoản vay này thường có kỳ hạn dài hơn, qua đó hỗ trợ ngân hàng cải thiện cơ cấu nguồn vốn và trạng thái ngoại tệ.

Tuy nhiên, chuyên gia cho rằng không nên mặc nhiên coi việc ngân hàng huy động USD ở nước ngoài với chi phí thấp đồng nghĩa với khả năng chuyển thành nguồn vốn Việt Nam đồng giá rẻ để cho vay.

Chi phí vốn trên thị trường quốc tế chịu ảnh hưởng từ lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ, cùng phần bù rủi ro quốc gia và rủi ro của chính tổ chức phát hành. Khi lợi suất của các công cụ gần như phi rủi ro tại Mỹ ở mức cao, nhà đầu tư sẽ đòi hỏi lợi suất cao hơn đối với trái phiếu do các ngân hàng Việt Nam phát hành.

“Đây là cách để đa dạng hóa nguồn vốn và kéo dài kỳ hạn, không nên hiểu đơn giản là ngân hàng có thể vay USD rẻ rồi cho vay Việt Nam đồng rẻ”, bà Thúy phân tích.

Theo chuyên gia, rủi ro đáng lưu ý nhất khi gia tăng nguồn vốn ngoại là chênh lệch tiền tệ. Trường hợp ngân hàng huy động USD nhưng cho vay hoặc nắm giữ tài sản bằng Việt Nam đồng, ngân hàng cần kiểm soát chặt rủi ro tỷ giá, kỳ hạn và thanh khoản. Vì vậy, nguồn vốn ngoại chỉ phát huy hiệu quả khi được phân bổ vào các dự án tạo nguồn thu ngoại tệ, những dự án xanh có dòng tiền dài hạn hoặc đi kèm các công cụ phòng vệ tỷ giá phù hợp.

Khang Nguyễn