Tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội – Quảng Ninh dài 120,2 km, có tổng mức đầu tư 147.370 tỷ đồng, đặt mục tiêu khai thác vào cuối năm 2028, khoảng 32 tháng sau khi khởi công. Nếu hoàn thành đúng kế hoạch, đây sẽ là tiến độ đáng chú ý khi so sánh với một số dự án đường sắt tốc độ cao tại Nhật Bản, Pháp và Anh.
Dự án do Công ty CP Đầu tư và Phát triển đường sắt cao tốc VinSpeed, thuộc Vingroup, làm chủ đầu tư. Tổng vốn đầu tư dự kiến hơn 5,6 tỷ USD, chưa bao gồm chi phí giải phóng mặt bằng.
Tuyến đi qua Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng và Quảng Ninh, được thiết kế đường đôi, khổ ray 1.435 mm, điện khí hóa toàn tuyến, tốc độ tối đa 350 km/h. Riêng đoạn qua Hà Nội dài khoảng 17,48 km có tốc độ thiết kế tối đa 120 km/h.
Tiến độ 32 tháng và bài toán so sánh quốc tế
Một số dự án đường sắt tốc độ cao trên thế giới có thời gian triển khai kéo dài nhiều năm. Tuy nhiên, thời gian xây dựng cần được so sánh trên cùng cơ sở, bởi mỗi dự án có phạm vi, điều kiện địa chất, thủ tục chuẩn bị và cách tính mốc khởi công khác nhau.
Nhật Bản: Đoạn Takasaki – Nagano thuộc tuyến Hokuriku Shinkansen dài khoảng 117 km, được đưa vào khai thác ngày 1/10/1997, sau hơn 8 năm xây dựng theo số liệu được dẫn trong bài viết.Pháp: Nhánh phía Đông của tuyến LGV Rhin-Rhône dài khoảng 140 km, khởi công tháng 7/2006 và khai thác thương mại tháng 12/2011, tương đương khoảng 5 năm 5 tháng.
Anh: Tuyến High Speed 1 dài khoảng 109 km, bắt đầu xây dựng năm 1998, mở từng phần từ năm 2003 và hoàn thành kết nối đến ga St Pancras tại London vào tháng 11/2007, sau khoảng 9 năm kể từ khi khởi công.
Nếu tuyến Hà Nội – Quảng Ninh hoàn thành theo kế hoạch, tiến độ dự kiến sẽ ngắn hơn đáng kể so với các dự án trên. Dù vậy, đây mới là mục tiêu đặt ra; thời gian hoàn thành thực tế còn phụ thuộc vào tiến độ thi công, giải phóng mặt bằng, lắp đặt thiết bị và kiểm thử hệ thống.
Thiết kế tuyến đường và phương án khai thác
Điểm đầu của tuyến là ga Cổ Loa, thuộc khu vực Trung tâm Triển lãm Việt Nam tại Hà Nội; điểm cuối là ga Hạ Long Xanh ở Quảng Ninh. Ba ga trung gian được quy hoạch tại Gia Bình, Ninh Xá và Yên Tử.
Dự án còn bố trí depot tại ga Hạ Long Xanh để phục vụ dừng đỗ, vệ sinh, bảo dưỡng và sửa chữa tàu, cùng bãi đỗ tàu rộng khoảng 6,12 ha tại ga Cổ Loa.
Theo hồ sơ dự án, đoàn tàu dự kiến gồm 7–8 toa, sức chứa hơn 600 hành khách. Tuyến được lên kế hoạch hoạt động từ 6h đến 24h mỗi ngày, với thời gian di chuyển giữa Hà Nội và Quảng Ninh dự kiến khoảng 23 phút, so với hơn 2 giờ hiện nay.
Tần suất khai thác dự kiến tăng dần theo nhu cầu. Trong năm 2028, các chuyến tàu cách nhau 60 phút. Đến năm 2030, khoảng cách giữa các chuyến vào giờ cao điểm giảm còn 30 phút. Năm 2035, tần suất dự kiến đạt 20 phút/chuyến vào giờ cao điểm và 30 phút/chuyến ngoài giờ cao điểm.
Công nghệ và tiến độ thi công
Theo thiết kế, khoảng 117 km tuyến đường được xây dựng trên cầu cạn. Dự án có 9 cầu lớn vượt các sông như Đuống, Thái Bình, Kinh Thầy, Đá Vách, Sinh, Uông và Hốt. Một số nhịp cầu dài tới 100 m, sử dụng kết cấu dầm hộp đúc hẫng cân bằng để đáp ứng yêu cầu về tĩnh không thông thuyền. Cầu cạn cũng được thiết kế lắp đặt lan can chống trật bánh.
Hệ thống thông tin tín hiệu dự kiến sử dụng công nghệ ERTMS/ETCS cấp độ 2 kết hợp CTCS-3, phục vụ giám sát và điều khiển chạy tàu. Các thiết bị đo gió, lượng mưa và cảm biến địa chấn sẽ thu thập dữ liệu truyền về trung tâm điều hành. Hệ thống SCADA được sử dụng để giám sát các thông số của mạng lưới cấp điện.
Đoàn tàu, hệ thống tín hiệu và điện khí hóa do Siemens Mobility của Đức cung cấp. Theo kế hoạch công bố khi khởi công, hai bên sẽ từng bước chuyển giao công nghệ cho VinSpeed trong quá trình vận hành.
Về tiến độ thi công, ngày 1/10/2026, những phiến dầm đầu tiên phục vụ dự án được đúc. Mỗi phiến dầm điển hình dài 32,6 m, rộng 12,6 m, cao 3,015 m và sử dụng khoảng 280 m³ bê tông. Các bãi đúc dầm cùng nhiều mũi thi công được triển khai dọc tuyến để phục vụ xây dựng cầu cạn.
Tại Quảng Ninh, công tác giải phóng mặt bằng được thực hiện tại 7 xã, phường có tuyến đường sắt đi qua. Địa phương đã bàn giao hơn 50 ha mặt bằng cho dự án. Đến tháng 10/2026, diện tích giải phóng mặt bằng được báo cáo đạt hơn 156 ha, tương đương khoảng 80,7% phạm vi cần thực hiện trên địa bàn tỉnh.
Thách thức lớn nhất là bảo đảm tiến độ đi cùng chất lượng
Với quy mô 120,2 km, tốc độ thiết kế tối đa 350 km/h và tổng vốn đầu tư hơn 147.000 tỷ đồng, dự án đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa xây dựng hạ tầng, lắp đặt hệ thống điện khí hóa, tín hiệu, đoàn tàu và công tác nghiệm thu an toàn.
Mục tiêu khai thác sau 32 tháng thể hiện tham vọng đẩy nhanh phát triển hạ tầng giao thông hiện đại tại Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh tiến độ, các yếu tố quyết định thành công còn bao gồm chất lượng công trình, khả năng tích hợp công nghệ, an toàn vận hành và hiệu quả khai thác thực tế.
Lan Anh