Chi phí đầu vào giảm, tạo dư địa hạ giá bán

Từ ngày 1/11, giá bán lẻ điện bình quân giảm 2%, xuống còn 2.159,9 đồng/kWh, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Đây là lần đầu tiên giá bán lẻ điện bình quân được điều chỉnh giảm sau gần 20 năm, nếu không tính những đợt hỗ trợ giảm giá điện, tiền điện trong thời kỳ dịch COVID-19.

Cũng từ thời điểm này, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các loại xăng được đưa về 0%, áp dụng đến hết ngày 31/3/2027. Nhờ đó, giá xăng giảm đáng kể: E5RON92 giảm 1.804 đồng/lít, E10RON95-III giảm 1.575 đồng/lít. Hai chính sách được triển khai đúng thời điểm nền kinh tế bước vào giai đoạn cao điểm sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng cuối năm.

Việc đồng thời giảm giá điện và thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng được đánh giá có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh áp lực lạm phát những tháng cuối năm vẫn còn hiện hữu.

CPI 9 tháng năm nay tăng 4,52%, tạo thêm thách thức đối với mục tiêu kiểm soát lạm phát cả năm. Nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng vào cuối năm, cùng với tiến độ giải ngân vốn đầu tư và tăng trưởng tín dụng được đẩy nhanh, có thể gây sức ép lên mặt bằng giá. Bên cạnh đó, biến động khó lường của giá năng lượng, nhiên liệu và tỷ giá cũng tiềm ẩn nguy cơ làm tăng chi phí nhập khẩu, ảnh hưởng đến lạm phát. Vì vậy, giảm chi phí đầu vào sẽ tạo thêm dư địa cho công tác điều hành.

Ước tính, việc đưa thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng về 0% có thể giúp giá xăng giảm khoảng 1.500-1.700 đồng/lít. Trong khi đó, giảm giá điện 2% góp phần kiềm chế lạm phát thông qua cả tác động trực tiếp đến chi tiêu và tác động gián tiếp đến giá thành hàng hóa, dịch vụ.

Từ 0h ngày 1/11, giá xăng được điều chỉnh giảm, trong đó E5RON92 giảm 1.804 đồng/lít và E10RON95-III giảm 1.575 đồng/lít.

Theo tính toán, giá điện giảm 2% có thể trực tiếp kéo CPI giảm khoảng 0,06%. Với những ngành tiêu thụ nhiều điện, giá thành sản xuất thép có thể giảm khoảng 0,12%, xi măng giảm khoảng 0,3% và dệt may giảm khoảng 0,2%.

Đây là tác động tích cực đối với hoạt động sản xuất, giúp doanh nghiệp giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành và có thêm điều kiện điều chỉnh giá bán ra thị trường.

Đối với hộ gia đình sử dụng khoảng 400 kWh điện mỗi tháng, mức tiết kiệm có thể đạt gần 20.000 đồng. Khoản giảm thực tế còn tùy thuộc vào biểu giá và lượng điện tiêu thụ của từng hộ. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo, gia đình chính sách cùng việc giảm giá điện sẽ góp phần giảm chi tiêu và bảo đảm an sinh xã hội.

Tuy nhiên, để tận dụng lợi ích từ chính sách, doanh nghiệp cần chủ động rà soát chi phí, tăng cường tiết kiệm và nâng cao hiệu quả hoạt động. Việc giảm chi phí không thể chỉ trông chờ vào những quyết định hỗ trợ của Nhà nước mà còn đòi hỏi nỗ lực từ chính doanh nghiệp. Qua đó, lợi ích mới có thể lan tỏa rộng hơn đến xã hội và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.

Đưa lợi ích giảm chi phí đến người tiêu dùng

Việc đồng thời giảm giá điện và giá xăng được đánh giá sẽ hỗ trợ thực hiện hai mục tiêu: thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát. Trong bối cảnh dư địa kiểm soát giá cả cuối năm không còn nhiều, giảm chi phí năng lượng sẽ góp phần hạn chế sức ép lên mặt bằng giá chung.

Doanh nghiệp có thêm điều kiện giảm giá thành và nâng cao năng lực cạnh tranh, trong khi người dân tiết kiệm được một phần chi tiêu để dành cho những nhu cầu khác. Khi sức mua cải thiện, hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng được hưởng lợi. Dù mức giảm giá điện 2% chưa lớn, chính sách vẫn mang ý nghĩa thiết thực, thể hiện sự chia sẻ với người dân và doanh nghiệp trong giai đoạn còn nhiều khó khăn.

Tác động của chính sách thuế đối với xăng đến sản xuất và vận tải sẽ khác nhau tùy theo loại nhiên liệu mà từng đơn vị sử dụng. Đối với điện, khả năng giảm giá thành cũng phụ thuộc vào tỷ trọng chi phí điện trong tổng chi phí của mỗi doanh nghiệp.

Riêng trong quá trình triển khai giá điện mới, cần bảo đảm tính minh bạch ngay trên hóa đơn. Thời điểm áp dụng, cách xác định sản lượng và phương pháp tính tiền đối với kỳ hóa đơn có thay đổi giá cần được giải thích rõ ràng để khách hàng thuận tiện kiểm tra, đối chiếu.

EVN cần công khai cách tính, thời điểm áp dụng và các chỉ số đo đếm, qua đó phân biệt rõ lượng điện tiêu thụ trước và sau khi giảm giá. Điều này giúp người dân kiểm chứng được mức lợi ích thực tế, tránh tình trạng giá điện đã giảm nhưng khách hàng không xác định được mình được hưởng bao nhiêu.

Sự minh bạch không chỉ giúp người dân nhận biết khoản tiền tiết kiệm mà còn củng cố niềm tin vào cơ chế điều hành giá theo cả hai chiều tăng và giảm. Khi có điều kiện giảm giá, lợi ích cần được chia sẻ kịp thời; khi phải điều chỉnh tăng, cơ sở chi phí và những tác động xã hội cũng cần được công khai, giải thích rõ.

Cùng với đó, ngành điện cần tiếp tục nâng cao hiệu quả quản trị, kiện toàn bộ máy, tiết giảm chi phí và gắn trách nhiệm với kết quả công việc. Đây là nền tảng để việc giảm giá không ảnh hưởng đến năng lực vận hành, đầu tư và bảo đảm nguồn cung điện.

Biểu giá điện mới phù hợp hơn với thực tế tiêu dùng

Bên cạnh việc điều chỉnh giảm giá điện, biểu giá điện sinh hoạt trong đợt này cũng được chuyển từ 6 bậc xuống còn 5 bậc.

Trước đây, số hộ sử dụng dưới 50 kWh/tháng tương đối lớn, nhưng hiện nay nhóm này đã giảm đáng kể. Vì vậy, việc mở rộng bậc đầu tiên lên mức tiêu thụ 100 kWh được đánh giá là phù hợp hơn với thực tế sử dụng điện. Việc giảm số bậc và mở rộng khoảng tiêu thụ ở từng bậc cũng giúp người dân dễ theo dõi, tính toán và kiểm soát hóa đơn.

Mức giảm giá điện 2% tuy không quá lớn nhưng vẫn có ý nghĩa thiết thực đối với đời sống người dân, nhất là khi giá cả còn chịu nhiều sức ép.

So với biểu giá trước đây, mức giá ở các bậc tiêu thụ thấp cơ bản được giữ nguyên hoặc giảm. Các bậc tiêu thụ cao được sắp xếp lại, trong đó bậc 4 áp dụng cho phần điện từ 401-700 kWh và bậc 5 dành cho mức sử dụng từ 701 kWh trở lên.

Giá điện ở bậc cao nhất gần gấp hai lần bậc thấp nhất, qua đó tạo động lực để những hộ sử dụng nhiều điện chủ động tiết kiệm.

Mục tiêu của việc điều chỉnh không chỉ là đơn giản hóa biểu giá để người dân thuận tiện theo dõi và tính toán, mà còn khuyến khích tiết kiệm điện. Hộ gia đình càng sử dụng nhiều điện thì phần sản lượng ở các bậc cao càng phải chịu mức giá lớn hơn.

Về công tác điều hành giá, cần cân nhắc thời điểm điều chỉnh giá những mặt hàng, dịch vụ khác do Nhà nước định giá, cố gắng duy trì ổn định trong các tháng cuối năm dù chi phí đầu vào có thể tiếp tục tăng. Việc phối hợp đồng bộ giữa các giải pháp giảm chi phí, điều hành giá và ổn định thị trường sẽ góp phần hạn chế nguy cơ nhiều yếu tố cùng lúc đẩy giá cả tăng cao.

Nếu có thể kiểm soát CPI trong khoảng 4,5-5% trong bối cảnh nhiều yếu tố gây sức ép tăng giá, đây cũng có thể được xem là một kết quả tích cực.

Minh Minh