Thứ hạng các ngân hàng có nhiều thay đổi. VietinBank đứng đầu với 13.688 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, đẩy Vietcombank xuống vị trí thứ hai. BIDV vượt Techcombank lên vị trí thứ tư. VPBank, MB, ACB, HDBank và LPBank giữ nguyên thứ hạng so với quý III/2025.

Trong khi đó, SHB vươn lên vị trí thứ chín, thay thế Sacombank sau khi lợi nhuận ngân hàng này giảm 51,9%, còn 1.757 tỷ đồng do chi phí dự phòng tăng mạnh.

VietinBank dẫn đầu, Sacombank rời Top 10

Lợi nhuận trước thuế quý III/2026 (tỷ đồng):

1. VietinBank: 13.688
2. Vietcombank: 11.218
3. VPBank: 11.031
4. BIDV: 10.579
5. Techcombank: 10.375
6. MB: 10.330
7. ACB: 5.879
8. HDBank: 5.176
9. SHB: 5.166
10. LPBank: 4.448

Cuộc đổi ngôi giữa VietinBank và Vietcombank

Trong quý III/2026, VietinBank ghi nhận 13.688 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 29% so với cùng kỳ và cao hơn Vietcombank khoảng 2.470 tỷ đồng.

Lợi thế của VietinBank đến từ quy mô cho vay lớn hơn. Đến cuối tháng 9, dư nợ khách hàng đạt khoảng 2,14 triệu tỷ đồng, so với 1,82 triệu tỷ đồng của Vietcombank. Nhờ đó, thu nhập lãi thuần của VietinBank đạt 21.816 tỷ đồng, cao hơn mức 20.386 tỷ đồng của đối thủ.

Khác biệt đáng kể còn nằm ở hoạt động dịch vụ. Lãi thuần dịch vụ của VietinBank tăng 56,6%, đạt 2.486 tỷ đồng, gần gấp ba lần mức 904 tỷ đồng của Vietcombank.

Bên cạnh đó, chi phí hoạt động của VietinBank chỉ tăng 19%, lên 7.185 tỷ đồng. Nhờ vậy, lợi nhuận trước dự phòng đạt khoảng 21.469 tỷ đồng, cao hơn Vietcombank hơn 4.000 tỷ đồng. Tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) của VietinBank khoảng 25%, trong khi Vietcombank ở mức 32% do chi phí hoạt động tăng 33%.

So sánh kết quả kinh doanh VietinBank và Vietcombank

Chỉ tiêu (tỷ đồng)
                                            VietinBank                                      Vietcombank
Thu nhập lãi thuần              21.816                                                20.386
Lãi thuần dịch vụ                  2.486                                                    904
Thu nhập ngoài lãi khác     4.352                                                   4.141
Chi phí hoạt động                7.185                                                    8.029
Chi phí dự phòng                 7.780                                                   6.184
Lợi nhuận trước thuế        13.688                                                  11.218

Ở chiều ngược lại, VietinBank trích lập dự phòng 7.780 tỷ đồng, tăng 33%, cao hơn mức 6.184 tỷ đồng của Vietcombank. Tuy nhiên, chi phí dự phòng của Vietcombank đã tăng gần tám lần so với mức 776 tỷ đồng cùng kỳ.

Theo phân tích của Chứng khoán Vietcap, khoảng 5.000 tỷ đồng trong khoản dự phòng này là phần trích lập toàn bộ cho trái phiếu doanh nghiệp của một khách hàng. Ngân hàng đã chủ động chuyển khoản nợ sang nhóm nợ xấu từ quý IV/2025 và đây được đánh giá là chi phí phát sinh một lần. Nếu loại trừ khoản này, lợi nhuận quý của Vietcombank sẽ tăng đáng kể so với cùng kỳ.

Tính chung 9 tháng đầu năm, Vietcombank vẫn dẫn đầu với hơn 40.440 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 22%. VietinBank đạt khoảng 39.557 tỷ đồng, tăng 34%.

Về chất lượng tài sản, Vietcombank duy trì tỷ lệ nợ xấu 0,71% và tỷ lệ bao phủ nợ xấu khoảng 243%, trong khi tỷ lệ nợ xấu của VietinBank là 1,2%.

Sáu ngân hàng vượt mốc 10.000 tỷ đồng lợi nhuận

Top 10 phân hóa thành hai nhóm rõ rệt. Sáu ngân hàng dẫn đầu đều ghi nhận lợi nhuận trên 10.000 tỷ đồng, trong đó khoảng cách giữa VPBank ở vị trí thứ ba và MB ở vị trí thứ sáu chỉ khoảng 700 tỷ đồng.

Từ vị trí thứ bảy trở xuống, lợi nhuận quý của các ngân hàng dao động trong khoảng 4.400–5.900 tỷ đồng, thấp hơn nhóm dẫn đầu ít nhất khoảng 4.450 tỷ đồng.

Trong nhóm này, ACB, HDBank và SHB có mức lợi nhuận chênh lệch chưa đến 720 tỷ đồng. Đáng chú ý, HDBank chỉ cao hơn SHB khoảng 10 tỷ đồng.

LPBank đứng cuối Top 10 với 4.448 tỷ đồng, thấp hơn TPBank, ngân hàng xếp ngay sau, gần 1.470 tỷ đồng.

Các ngân hàng đẩy mạnh trích lập dự phòng rủi ro

Một điểm đáng chú ý trong quý III là xu hướng gia tăng trích lập dự phòng tại các ngân hàng.

Lợi nhuận trước dự phòng của Top 10 đạt hơn 126.000 tỷ đồng, nhưng gần một phần ba trong số này được sử dụng để trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Tổng chi phí dự phòng đạt 38.845 tỷ đồng, tăng 33,2% so với cùng kỳ, cao hơn đáng kể tốc độ tăng trưởng lợi nhuận.

Mức trích lập giữa các ngân hàng có sự khác biệt lớn. HDBank dành khoảng 40% lợi nhuận trước dự phòng cho khoản mục này. VietinBank, Vietcombank và VPBank cùng ở mức khoảng 36%.

Ngược lại, Techcombank chỉ trích lập 917 tỷ đồng, tương đương 8%. BIDV thậm chí giảm 25% chi phí dự phòng so với cùng kỳ, góp phần quan trọng giúp lợi nhuận tăng 39,3%.

Tỷ lệ trích lập dự phòng trên lợi nhuận trước dự phòng

Ngân hàng | Lợi nhuận trước thuế | Tỷ lệ trích lập
VietinBank | 13.688 | 36%
Vietcombank | 11.218 | 36%
VPBank | 11.031 | 36%
BIDV | 10.579 | 30%
Techcombank | 10.375 | 8%
MB | 10.330 | 34%
ACB | 5.879 | 14%
HDBank | 5.176 | 40%
SHB | 5.166 | 24%
LPBank | 4.448 | 30%

Thu nhập dịch vụ trở thành động lực tăng trưởng mới

Trong quý III/2026, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ của 10 ngân hàng đạt 21.414 tỷ đồng, tăng 53,5%, nhanh gấp đôi tốc độ tăng trưởng thu nhập lãi thuần.

LPBank ghi nhận mức tăng nổi bật nhất khi lãi thuần dịch vụ gần gấp bốn lần, đạt 3.395 tỷ đồng, tương đương 43% tổng thu nhập hoạt động trong quý.

SHB cũng ghi nhận lãi dịch vụ tăng 2,2 lần, lên 1.920 tỷ đồng. Kết quả này góp phần đưa lợi nhuận quý của ngân hàng tăng 57,1%, mức tăng cao nhất trong Top 10.

Techcombank tiếp tục dẫn đầu về quy mô lãi thuần dịch vụ với 3.615 tỷ đồng, tăng 59,5%, chiếm khoảng 22% tổng thu nhập hoạt động.

Lãi thuần dịch vụ của các ngân hàng trong quý III/2026

1. Techcombank: 3.615 tỷ đồng
2. LPBank: 3.395 tỷ đồng
3. VPBank: 3.089 tỷ đồng
4. VietinBank: 2.486 tỷ đồng
5. SHB: 1.920 tỷ đồng
6. BIDV: 1.858 tỷ đồng
7. MB: 1.678 tỷ đồng
8. HDBank: 1.677 tỷ đồng
9. Vietcombank: 904 tỷ đồng
10. ACB: 791 tỷ đồng

Trong khi đó, Vietcombank và ACB là hai ngân hàng duy nhất trong nhóm ghi nhận lãi thuần dịch vụ giảm nhẹ so với cùng kỳ.

Khang Nguyễn