Thanh khoản được điều tiết, lãi suất liên ngân hàng giảm

Theo báo cáo chiến lược của MBS, trong tuần từ ngày 10–14/8/2026, Ngân hàng Nhà nước hút ròng khoảng 11,6 nghìn tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO).

Trong kỳ, 38,3 nghìn tỷ đồng được phân bổ qua OMO với kỳ hạn 7–91 ngày, lãi suất 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng vốn đáo hạn trên kênh cho vay cầm cố giấy tờ có giá lên tới 49,8 nghìn tỷ đồng. Qua đó, quy mô OMO lưu hành giảm xuống còn khoảng 185,7 nghìn tỷ đồng.

Đáng chú ý, việc hút ròng thanh khoản không khiến thị trường tiền tệ chịu thêm áp lực đáng kể. Lãi suất liên ngân hàng qua đêm giảm 61 điểm cơ bản, xuống 4,92%/năm, trong khi kỳ hạn 6 tháng giảm 55 điểm cơ bản, còn 5,25%/năm.

Diễn biến này cho thấy thanh khoản ngắn hạn trong hệ thống vẫn được duy trì ở mức phù hợp, dù cơ quan quản lý chủ động kiểm soát lượng tiền dư thừa.

Ở nhóm kỳ hạn 1–6 tháng, lãi suất liên ngân hàng lại tăng nhẹ 20–21 điểm cơ bản, dao động trong khoảng 6,6%–8%/năm. Sự phân hóa này phản ánh nhu cầu vốn trung hạn của các ngân hàng vẫn tương đối lớn, trong khi thanh khoản ngắn hạn không chịu nhiều sức ép.

Việc điều hành thanh khoản linh hoạt đang dần tạo tác động tới chi phí vốn của các ngân hàng thương mại. Khi nguồn vốn trên thị trường được duy trì ổn định, áp lực huy động có thể giảm, qua đó tạo điều kiện để các ngân hàng cân đối lại lãi suất huy động và cho vay.

Lãi suất huy động hạ, tín dụng có thêm động lực

Ngày 17/8, một số ngân hàng như Nam A Bank, LPBank và VCBNeo tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi trực tuyến. Trong đó, VCBNeo giảm tới 0,8 điểm phần trăm/năm tại một số kỳ hạn từ 12–60 tháng.

Mức điều chỉnh phổ biến trong khoảng 0,1–0,8 điểm phần trăm/năm, chủ yếu tập trung ở các kỳ hạn trực tuyến từ 6 tháng trở lên. Trong khi đó, lãi suất tiền gửi dưới 6 tháng tại nhiều ngân hàng tương đối ổn định.

Nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất huy động ở mức thấp. Đây được xem là mức tham chiếu quan trọng đối với thị trường, trong bối cảnh các ngân hàng phải vừa đáp ứng nhu cầu tín dụng, vừa kiểm soát chi phí đầu vào.

Nếu xu hướng giảm lãi suất huy động tiếp tục duy trì, chi phí vốn của các ngân hàng sẽ có thêm dư địa giảm. Đây cũng là tiền đề để lãi suất cho vay tiếp tục được điều chỉnh theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế.

Thực tế, nhiều ngân hàng đã công bố giảm lãi suất cho vay hoặc triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi sau các cuộc làm việc giữa Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và hệ thống tổ chức tín dụng. Trong đó, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước triển khai gói tín dụng khoảng 220.000 tỷ đồng hướng tới doanh nghiệp và các động lực tăng trưởng kinh tế.

Nguồn vốn được ưu tiên cho nhiều lĩnh vực như doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông nghiệp, xuất khẩu, công nghệ cao, kinh tế xanh và khách hàng cá nhân. Điều này cho thấy định hướng giảm chi phí vốn đang được chuyển thành những chương trình tín dụng cụ thể.

Tiền gửi tăng tạo nền tảng cho giảm chi phí vốn

Một yếu tố quan trọng hỗ trợ xu hướng giảm lãi suất là nguồn tiền gửi trong hệ thống tiếp tục tăng.

Đến cuối tháng 6/2026, tiền gửi của dân cư tại hệ thống ngân hàng đã vượt 11 triệu tỷ đồng, tăng 7,1% so với cuối năm 2025.

Nguồn tiền gửi ổn định giúp các ngân hàng chủ động hơn trong cân đối nguồn vốn và triển khai các chương trình tín dụng với lãi suất ưu đãi. Lợi thế này đặc biệt rõ hơn tại những ngân hàng có tỷ lệ CASA cao và chi phí vốn thấp.

Trong bối cảnh nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng cao, việc giảm chi phí vốn không chỉ phụ thuộc vào mức lãi suất, mà còn nằm ở khả năng đưa dòng tiền tới những khu vực có sức hấp thụ tốt và tạo ra giá trị gia tăng.

Do đó, chính sách tiền tệ đang đứng trước yêu cầu kép: duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, đồng thời định hướng tín dụng vào những lĩnh vực có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa. Cách tiếp cận này vừa hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh, vừa hạn chế nguy cơ dòng vốn chảy vào các lĩnh vực kém hiệu quả.

Nếu xu hướng giảm chi phí vốn tiếp tục được duy trì, tác động có thể từng bước lan sang chi phí tài chính của doanh nghiệp, sức mua và hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, mức độ lan tỏa vẫn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp, hộ kinh doanh và diễn biến sản xuất, kinh doanh trong những tháng cuối năm.

Minh Minh