Theo Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam, việc đưa xăng E10 trở thành loại nhiên liệu phổ biến khiến nhu cầu ethanol phục vụ phối trộn tăng lên khoảng 90.000-100.000 m³ mỗi tháng. Dù các nhà máy ethanol trong nước có công suất thiết kế đủ đáp ứng khoảng 45% nhu cầu, sản lượng thực tế hiện mới chỉ đạt khoảng 20%, phần còn lại vẫn phải nhập khẩu.

Nguyên nhân chính khiến công suất ethanol chưa được khai thác hết đến từ việc thị trường phát triển chưa ổn định, khiến doanh nghiệp còn thận trọng trong việc đầu tư mở rộng sản xuất. Các chuyên gia cho rằng chính sách dài hạn, ổn định và có tính dự báo là yếu tố quan trọng để ngành ethanol phát triển.

Việc xăng E10 được triển khai cũng mở ra cơ hội khôi phục các dự án ethanol từng gặp khó khăn. Nhà máy Ethanol Dung Quất đã hoạt động trở lại, Ethanol Bình Phước đang được chuẩn bị tái vận hành, trong khi một số cơ sở khác cũng được tái cơ cấu. Tuy nhiên, một số dự án như Ethanol Phú Thọ được đánh giá khó phục hồi do hạn chế về vị trí và chi phí logistics.

Bộ Công Thương cho biết định hướng trong thời gian tới là kết hợp giữa nguồn cung trong nước và nhập khẩu để đảm bảo thị trường, đồng thời thúc đẩy tái khởi động nhà máy hiện có, mở rộng công suất và phát triển dự án mới nhằm nâng tỷ lệ đáp ứng ethanol nội địa lên 50-70%.

Bên cạnh việc mở rộng sản xuất, cơ quan quản lý cũng định hướng phát triển vùng nguyên liệu, đổi mới công nghệ và tận dụng các nguồn nguyên liệu mới như phụ phẩm nông nghiệp, bã mía, rơm rạ để giảm phụ thuộc vào nguyên liệu truyền thống.

Về chính sách hỗ trợ, Bộ Tài chính cho biết ethanol nhập khẩu hiện được giảm thuế từ 10% xuống 5%, trong khi xăng sinh học được áp dụng mức thuế tiêu thụ đặc biệt thấp hơn xăng khoáng nhằm khuyến khích tiêu dùng và hỗ trợ quá trình chuyển đổi sang nhiên liệu xanh.

Minh Minh