Một trong những nội dung đáng chú ý là việc bổ sung thêm nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng.

Theo quy định mới, các sản phẩm bảo hiểm liên quan đến con người như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học cùng các dịch vụ bảo hiểm khác liên quan đến con người sẽ thuộc đối tượng không chịu thuế VAT. Ngoài ra, bảo hiểm vật nuôi, cây trồng và các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp khác cũng được bổ sung vào nhóm này.

Nghị định mới cũng đưa vào diện không chịu thuế VAT đối với bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ phục vụ trực tiếp hoạt động đánh bắt thủy sản.

Bên cạnh đó, hoạt động tái bảo hiểm theo quy định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm tiếp tục thuộc nhóm không chịu thuế. Một số hoạt động bảo hiểm liên quan đến các công trình, thiết bị dầu khí, tàu chứa dầu mang quốc tịch nước ngoài do nhà thầu dầu khí hoặc nhà thầu phụ nước ngoài thuê để hoạt động tại vùng biển Việt Nam hoặc vùng biển chồng lấn có thỏa thuận khai thác chung cũng được áp dụng quy định tương tự.

Đáng chú ý, doanh thu hoa hồng môi giới dịch vụ bảo hiểm cũng được xác định thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.

Ngoài việc mở rộng nhóm không chịu thuế, Nghị định 144/2026 cũng bổ sung quy định liên quan đến doanh thu khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với các tổ chức tín dụng, hoạt động chứng khoán và kinh doanh bảo hiểm.

Theo đó, doanh thu của tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ được xác định theo quy định của pháp luật về các tổ chức tín dụng. Doanh thu từ hoạt động chứng khoán, thị trường chứng khoán được xác định theo quy định pháp luật về chứng khoán, còn doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm được xác định theo pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.

Quy định mới cũng nêu rõ doanh thu của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng bao gồm cả doanh thu từ hàng hóa không phải kê khai, tính nộp thuế VAT nếu có.

Một điểm mới khác nhận được sự quan tâm của nhiều doanh nghiệp là quy định về khấu trừ VAT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp.

Theo Điều 4 Nghị định 144/2026/NĐ-CP, đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm hoặc trả góp có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh được căn cứ vào hợp đồng mua bán bằng văn bản, hóa đơn VAT và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.

Trường hợp chưa đến thời hạn thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng nên chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, doanh nghiệp vẫn được khấu trừ VAT đầu vào.

Tuy nhiên, đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng mà cơ sở kinh doanh vẫn không có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thì phải kê khai điều chỉnh giảm số thuế VAT đầu vào đã khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không đáp ứng điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt.

Sau khi thực hiện điều chỉnh, nếu doanh nghiệp bổ sung được chứng từ thanh toán hợp lệ thì vẫn được kê khai và khấu trừ lại số thuế VAT đầu vào tương ứng tại kỳ tính thuế phát sinh chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Ngoài các nội dung trên, Nghị định 144/2026/NĐ-CP cũng thay đổi danh mục sản phẩm tài nguyên, khoáng sản xuất khẩu không chịu thuế giá trị gia tăng.

Cụ thể, toàn bộ Phụ lục I và Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 181/2025/NĐ-CP sẽ bị bãi bỏ.

Từ ngày 20/06/2026, các Phụ lục I và II mới ban hành kèm theo Nghị định 144 sẽ được áp dụng đối với sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác và tài nguyên, khoáng sản đã qua chế biến theo định hướng hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô của Nhà nước.

Quy định này nhằm kiểm soát hoạt động xuất khẩu tài nguyên, khoáng sản chưa qua chế biến sâu, đồng thời phù hợp với chủ trương không khuyến khích xuất khẩu tài nguyên thô trong thời gian tới.

Khang Nguyễn