5 thủ đoạn gian lận phổ biến trên thương mại điện tử

Cục Thuế cho biết qua công tác quản lý đã nhận diện 5 phương thức gian lận đang được một số đối tượng sử dụng trong lĩnh vực thương mại điện tử.

Thứ nhất, tạo mạng lưới gian hàng ảo để quay vòng hóa đơn. Các đối tượng lập nhiều gian hàng trên sàn TMĐT bằng thông tin giả hoặc thuê mượn, sau đó tự đặt các đơn hàng có giá trị lớn nhưng thực tế không phát sinh giao dịch hàng hóa hoặc chỉ gửi các kiện hàng rỗng. Mục đích là tạo doanh thu giả nhằm hợp thức hóa hóa đơn GTGT đầu ra cho các doanh nghiệp “ma”, từ đó hình thành chuỗi khấu trừ thuế hoặc lập hồ sơ hoàn thuế xuất khẩu không có thật.

Thứ hai, lợi dụng mô hình bán hàng không qua kho. Một số doanh nghiệp kê khai đầu vào từ các hộ kinh doanh cá thể trên mạng xã hội, thu gom hóa đơn lẻ hoặc mua hóa đơn để hợp thức hóa chi phí, sau đó sử dụng các khoản chi phí này làm căn cứ đề nghị hoàn thuế.

Thứ ba, lợi dụng thanh toán trung gian và ví điện tử. Dòng tiền được chuyển qua nhiều tài khoản cá nhân hoặc ví điện tử khác nhau rồi quay trở lại doanh nghiệp dưới hình thức thanh toán đơn hàng, tạo ra các giao dịch mua bán giả nhưng có đầy đủ dấu vết thanh toán.

Thứ tư, giả mạo hoạt động xuất khẩu thông qua kho ngoại quan TMĐT. Doanh nghiệp khai báo xuất khẩu hàng hóa cho đối tác nước ngoài bán trên các sàn quốc tế như Amazon, eBay nhưng thực tế hàng hóa vẫn lưu thông trong nước hoặc được bán lẻ không xuất hóa đơn. Dù vậy, hồ sơ xuất khẩu vẫn được hoàn thiện để xin hoàn thuế.

Thứ năm, làm giả chứng từ vận chuyển. Các đối tượng gom nhiều đơn hàng ảo thành một lô hàng lớn rồi cấu kết làm giả chứng từ của đơn vị chuyển phát nhằm chứng minh hàng hóa đã được đưa ra khỏi Việt Nam, qua đó hoàn tất hồ sơ hoàn thuế.

Xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông để phát hiện bất thường

Theo Cục Thuế, điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa xuất khẩu qua sàn thương mại điện tử nước ngoài hiện được quy định chặt chẽ tại Khoản 1 Điều 28 Nghị định 181/2025/NĐ-CP. Hồ sơ hoàn thuế không chỉ cần hóa đơn mà còn phải chứng minh được việc hàng hóa đã thực sự được bán và giao cho khách hàng ở nước ngoài.

Một bộ hồ sơ hợp lệ phải bao gồm hợp đồng với đơn vị quản lý sàn TMĐT nước ngoài, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, tờ khai hải quan đã hoàn tất thủ tục xuất khẩu, tài liệu chứng minh việc giao hàng cho người mua cùng các chứng từ liên quan như phiếu đóng gói, vận đơn hoặc bảo hiểm hàng hóa nếu có.

Cục Thuế nhấn mạnh việc kiểm tra chứng từ vẫn là nền tảng pháp lý bắt buộc. Tuy nhiên, trước sự phát triển của các giao dịch số, ngành Thuế đang chuyển từ phương thức “quản lý dựa trên hồ sơ” sang “quản lý dựa trên dữ liệu”.

Theo đó, hệ sinh thái dữ liệu liên ngành sẽ được hình thành trên cơ sở kết nối thông tin hóa đơn điện tử của cơ quan thuế, dữ liệu dòng tiền từ ngân hàng và dữ liệu vận chuyển hàng hóa từ hải quan. Hệ thống phân tích rủi ro sẽ tự động rà soát toàn bộ mạng lưới giao dịch để nhận diện những dấu hiệu bất thường ngay từ sớm.

Đại diện Cục Thuế khẳng định việc tăng cường kiểm soát dữ liệu giao dịch số không nhằm gây khó khăn cho doanh nghiệp mà hướng tới xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, công bằng, bảo vệ các doanh nghiệp chấp hành đúng quy định pháp luật.

Hà An