Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký ban hành Thông tư số 15/2026/TT-BTC nhằm hướng dẫn nguyên tắc kế toán cho các tổ chức tham gia thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam.

Thông tư được áp dụng trong thời gian triển khai thí điểm thị trường tài sản mã hóa theo Nghị quyết số 05/2025/NQ-CP ngày 9/9/2025 của Chính phủ.

Theo quy định, tài sản số được hiểu là tài sản theo Bộ luật Dân sự, tồn tại dưới dạng dữ liệu số và được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao, xác thực bằng công nghệ số trong môi trường điện tử.

Trong khi đó, tài sản mã hóa là một dạng tài sản số sử dụng công nghệ mã hóa hoặc công nghệ số tương tự để xác thực trong quá trình tạo lập, phát hành, lưu trữ và chuyển giao. Tuy nhiên, loại tài sản này không bao gồm chứng khoán, các dạng số của tiền pháp định và các tài sản tài chính khác theo quy định của pháp luật.

Thông tư yêu cầu các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, tổ chức phát hành và nhà đầu tư trong nước phải tuân thủ đầy đủ Luật Kế toán, các chuẩn mực kế toán Việt Nam, chế độ kế toán doanh nghiệp và các quy định liên quan đến thị trường tài sản mã hóa.

Các đơn vị này thực hiện hạch toán theo Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành kèm Thông tư 99/2025/TT-BTC ngày 27/10/2025 của Bộ Tài chính, đồng thời tuân thủ thêm các nội dung hướng dẫn tại Thông tư mới để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.

Đối với các tổ chức phát hành hoặc nhà đầu tư đang áp dụng chế độ kế toán riêng, việc hạch toán vẫn thực hiện theo chế độ hiện hành nhưng phải kết hợp với các quy định trong Thông tư 15.

Về hoạt động cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, doanh thu từ các dịch vụ như tổ chức thị trường giao dịch, lưu ký tài sản mã hóa hay cung cấp nền tảng phát hành sẽ được ghi nhận vào tài khoản “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”.

Doanh thu phải được theo dõi chi tiết theo từng loại dịch vụ, đồng thời các khoản nợ phải thu cũng phải được phân loại và hạch toán rõ ràng để đảm bảo khả năng thu hồi và trích lập dự phòng theo quy định.

Đối với dịch vụ lưu ký, tổ chức cung cấp dịch vụ phải tách biệt hoàn toàn tiền và tài sản mã hóa của khách hàng với tài sản của chính tổ chức. Các tài sản này được theo dõi chi tiết theo từng khách hàng và từng loại tài sản.

Tài sản mã hóa của khách hàng gửi lưu ký không được ghi nhận là tài sản của tổ chức cung cấp dịch vụ mà chỉ được theo dõi riêng nhằm phục vụ công tác quản lý và thuyết minh trên báo cáo tài chính.

Các khoản phí thu từ dịch vụ lưu ký, quản lý tài sản mã hóa, thực hiện quyền và chuyển giao tài sản cho khách hàng sẽ được ghi nhận là doanh thu dịch vụ.

Đối với hoạt động tự doanh tài sản mã hóa, tổ chức cung cấp dịch vụ ghi nhận doanh thu và chi phí tương tự hoạt động kinh doanh chứng khoán. Tuy nhiên, quy định này chỉ nhằm phục vụ mục đích hạch toán kế toán và không đồng nghĩa coi tài sản mã hóa là chứng khoán.

Các tổ chức phải theo dõi chi tiết danh mục tài sản mã hóa tự doanh đang nắm giữ, đồng thời trích lập dự phòng rủi ro tương tự như hoạt động tự doanh của các công ty chứng khoán.

Đối với tổ chức phát hành tài sản mã hóa, việc hạch toán kế toán sẽ dựa trên bản chất nghĩa vụ phát sinh từ loại tài sản được phát hành. Nếu tài sản mã hóa mang bản chất huy động vốn, việc ghi nhận kế toán sẽ tương tự hoạt động vay vốn của doanh nghiệp.

Với nhà đầu tư trong nước, các giao dịch mua bán tài sản mã hóa trên nền tảng giao dịch sẽ được hạch toán tương tự hoạt động đầu tư tài chính, căn cứ theo mục đích nắm giữ và chiến lược đầu tư của từng tổ chức hoặc cá nhân.

Khánh An