Theo số liệu từ Cục Hải quan, tính đến ngày 15/4, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 297,06 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt khoảng 144,6 tỷ USD, tăng 20,3%, còn nhập khẩu đạt 152,5 tỷ USD, tăng khoảng 28,8%.

Việt Nam ghi nhận mức nhập siêu 7,9 tỷ USD từ đầu năm đến giữa tháng 4. Đáng chú ý, riêng nửa đầu tháng 4, mức nhập siêu đã lên tới 4,25 tỷ USD, khiến cán cân thương mại đảo chiều.

Tuy nhiên, theo TS kinh tế Lê Bá Chí Nhân, đây không phải là tín hiệu tiêu cực mà phản ánh sự vận động mạnh của nền sản xuất trong nước.

“Nguyên nhân chính nằm ở cấu trúc nhập khẩu. Phần lớn kim ngạch tăng thuộc nhóm tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử, nguyên phụ liệu dệt may, hóa chất, sắt thép… Đây đều là đầu vào cho sản xuất và xuất khẩu trong các quý tiếp theo”, ông Nhân phân tích.

Thực tế cho thấy, các nhóm hàng nhập khẩu tăng mạnh chủ yếu là linh kiện điện tử, máy móc và nguyên vật liệu – những yếu tố thiết yếu cho sản xuất.

Bên cạnh đó, dòng vốn FDI tiếp tục mở rộng, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử, bán dẫn và công nghệ cao. Doanh nghiệp FDI thường nhập khẩu lớn vào đầu năm để lắp đặt dây chuyền và dự trữ linh kiện, khiến cán cân thương mại tạm thời nghiêng về nhập khẩu nhưng tạo nền tảng cho xuất khẩu tăng mạnh về sau.

Quan trọng hơn, mức nhập siêu 7,9 tỷ USD trên tổng kim ngạch hơn 297 tỷ USD chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ, vẫn trong ngưỡng an toàn. Điều này cho thấy nền kinh tế đang chuẩn bị cho một chu kỳ xuất khẩu lớn hơn, thay vì đối mặt rủi ro vĩ mô.

Đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Hà Nội (HANSIBA) cũng cho rằng nhập siêu đầu năm là điều dễ hiểu khi doanh nghiệp tăng nhập nguyên liệu và máy móc để mở rộng sản xuất.

Tuy vậy, sự phân hóa giữa các khu vực doanh nghiệp đang thể hiện rõ. Khu vực FDI đạt kim ngạch gần 226 tỷ USD, tăng 29,5%, chiếm hơn 76% tổng kim ngạch và đóng góp gần 88% mức tăng trưởng. Trong khi đó, doanh nghiệp trong nước chỉ đạt khoảng 71,1 tỷ USD, chiếm chưa tới 24%, với mức tăng khoảng 10%.

Theo HANSIBA, phát triển công nghiệp hỗ trợ là chìa khóa dài hạn. Khi doanh nghiệp nội có thể cung ứng nguyên liệu, linh kiện cho các ngành xuất khẩu lớn, không chỉ giảm phụ thuộc nhập khẩu mà còn giữ lại giá trị trong nước. Đồng thời, cần hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường và truy xuất nguồn gốc để tận dụng các hiệp định thương mại tự do.

“Quan trọng hơn là tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của khu vực FDI, từ đó nâng cao năng lực và vị thế”, đại diện HANSIBA nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), cho rằng nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu phản ánh nhu cầu sản xuất gia tăng, nhưng cũng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu.

Trong khi đó, TS Vũ Thị Kim Oanh (Đại học RMIT Việt Nam) cảnh báo xuất khẩu thời gian tới vẫn đối mặt nhiều thách thức. Chi phí đầu vào như năng lượng, logistics và nguyên vật liệu tăng sẽ làm thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp.

Theo nhận định, năm 2026 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam vẫn có thể tăng, nhưng mức xuất siêu sẽ khiêm tốn hơn so với năm 2025.

Mạnh Hải