Chính phủ đã ban hành Nghị định số 168/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Dân số.
Nghị định hướng dẫn cụ thể khoản 2 Điều 14, khoản 5 Điều 18, điểm a khoản 2 Điều 21 và khoản 2 Điều 25 của Luật Dân số, bao gồm các nội dung về điều kiện, thủ tục hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai; mức hỗ trợ tài chính và trình tự thực hiện hỗ trợ khi sinh con; phạm vi, đối tượng và mức hỗ trợ khám sàng lọc trước sinh, sơ sinh đối với một số bệnh bẩm sinh theo lộ trình.
Quy định về nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai
Theo điểm a khoản 1 Điều 14 Luật Dân số, lao động nữ sinh con thứ hai được nghỉ thai sản 7 tháng, trong khi lao động nam có vợ sinh con thứ hai được nghỉ 10 ngày làm việc.
Để được hưởng chế độ này, lao động nữ phải đáp ứng điều kiện hưởng thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và thuộc một trong các trường hợp sau:
- Lao động nữ sinh con khi tại thời điểm sinh đang có một con đẻ còn sống.
- Lao động nam có vợ sinh con khi người vợ tại thời điểm sinh đang có một con đẻ còn sống.
Nghị định cũng nêu rõ, trường hợp lao động nữ mang thai từ đủ 22 tuần tuổi trở lên nhưng bị sảy thai, phá thai, thai chết trong tử cung hoặc thai chết trong khi chuyển dạ theo khoản 2 Điều 52 Luật Bảo hiểm xã hội sẽ không được hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai theo quy định của Luật Dân số.
Thủ tục hưởng chế độ được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và quy trình giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành. Người kê khai phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin cung cấp.
Phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi được hỗ trợ tối thiểu 2 triệu đồng
Theo Nghị định 168/2026/NĐ-CP, mức hỗ trợ tài chính tối thiểu là 2 triệu đồng/phụ nữ khi sinh con thuộc một trong các trường hợp sau:
- Phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người.
- Phụ nữ sinh sống tại tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế.
- Phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi.
Nếu một người đồng thời thuộc nhiều nhóm đối tượng nêu trên thì chỉ được hưởng một mức hỗ trợ.
Chủ tịch UBND cấp xã sẽ căn cứ dữ liệu từ hệ thống đăng ký khai sinh liên thông, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, ứng dụng VNeID và các cơ sở dữ liệu liên quan để quyết định hỗ trợ và thực hiện chi trả cùng thời điểm đăng ký khai sinh.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Tuy nhiên, riêng chính sách hỗ trợ đối với phụ nữ ở địa phương có mức sinh dưới mức sinh thay thế và phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi sẽ chính thức áp dụng từ ngày 1/1/2027.
Kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ tài chính do ngân sách địa phương bảo đảm.
Hỗ trợ khám sàng lọc trước sinh và sơ sinh
Nghị định cũng quy định phụ nữ mang thai được khám và sàng lọc miễn phí đối với 4 bệnh bẩm sinh cơ bản, gồm:
- Hội chứng Down.
- Hội chứng Edwards.
- Hội chứng Patau.
- Bệnh Thalassemia (tan máu bẩm sinh).
Đối với trẻ sơ sinh, chương trình hỗ trợ áp dụng cho 5 bệnh bẩm sinh, gồm:
- Suy giáp trạng bẩm sinh.
- Thiếu men G6PD.
- Tăng sản thượng thận bẩm sinh.
- Khiếm thính bẩm sinh.
- Bất thường tim bẩm sinh nặng.
Mức hỗ trợ khám sàng lọc
Theo quy định, mức hỗ trợ khám sàng lọc trước sinh được thanh toán theo chi phí thực tế nhưng không quá 900.000 đồng/trường hợp. Đối với sàng lọc sơ sinh, mức hỗ trợ tối đa là 600.000 đồng/trường hợp.
Nếu cơ quan có thẩm quyền đã phê duyệt giá gói dịch vụ thì mức hỗ trợ sẽ thực hiện theo giá gói được phê duyệt.
Khoản hỗ trợ này được chi trả trực tiếp cho các cơ sở y tế thực hiện lấy mẫu và tiến hành kỹ thuật sàng lọc.
Lộ trình áp dụng
Từ 1/7/2026 đến hết 31/12/2026, ngân sách nhà nước hỗ trợ miễn phí gói khám sàng lọc trước sinh và sơ sinh cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội, người dân tại thôn đặc biệt khó khăn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và hải đảo.
Từ 1/1/2027, tất cả phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ gói khám sàng lọc và mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026–2035, cho đến khi các dịch vụ này được đưa vào danh mục chi trả của bảo hiểm y tế theo lộ trình.
Hà Anh